
Quy định về kiểm tra kế toán theo Luật Kế Toán số 88/2015/QH13 là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo tính minh bạch, trung thực và tuân thủ trong hoạt động kế toán tại các đơn vị. Theo luật, mọi đơn vị kế toán đều phải chịu sự kiểm tra khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền như Bộ Tài chính, các bộ ngành, UBND cấp tỉnh hoặc đơn vị cấp trên trực tiếp.

Nội dung kiểm tra bao gồm việc thực hiện công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, kinh doanh dịch vụ kế toán cũng như việc tuân thủ các quy định pháp luật liên quan. Thời gian kiểm tra tối đa 10 ngày, có thể kéo dài thêm 5 ngày trong trường hợp phức tạp. Đoàn kiểm tra có quyền yêu cầu đơn vị cung cấp tài liệu kế toán, lập biên bản kiểm tra, đưa ra kết luận và xử lý vi phạm theo thẩm quyền, đồng thời phải tuân thủ đúng trình tự và không gây cản trở hoạt động của đơn vị. Về phía đơn vị được kiểm tra, họ có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, giải trình và thực hiện kết luận, nhưng cũng có quyền từ chối nếu việc kiểm tra không đúng thẩm quyền hoặc khiếu nại khi không đồng ý với kết luận. Như vậy, quy định này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường kỷ luật trong công tác kế toán.
Mọi đơn vị kế toán đều phải chấp hành việc kiểm tra kế toán do cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Hoạt động kiểm tra này chỉ được tiến hành khi có quyết định bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các cơ quan được nêu tại điểm b khoản 3 Điều này.
Các cơ quan có quyền ra quyết định kiểm tra kế toán bao gồm:
a) Bộ Tài chính;
b) Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương trong phạm vi lĩnh vực được phân công phụ trách;
c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với các đơn vị kế toán trên địa bàn do mình quản lý;
d) Đơn vị cấp trên đối với các đơn vị kế toán trực thuộc.
Các cơ quan được giao thẩm quyền thực hiện kiểm tra kế toán gồm:
a) Các cơ quan được nêu tại khoản 2 Điều này;
b) Cơ quan thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành tài chính, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan thuế trong quá trình tiến hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tại đơn vị kế toán.
(Theo Điều 34 Luật Kế toán số 88/2015/QH13)
Các nội dung được xem xét trong quá trình kiểm tra kế toán bao gồm:
a) Đánh giá việc thực hiện các nghiệp vụ và công tác kế toán tại đơn vị;
b) Xem xét cách thức tổ chức bộ máy kế toán cũng như đội ngũ người làm kế toán;
c) Kiểm tra việc quản lý, điều hành và hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán;
d) Đối chiếu việc tuân thủ các quy định pháp luật khác có liên quan đến kế toán.
Những nội dung trên phải được ghi rõ trong quyết định kiểm tra, ngoại trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 34 của Luật Kế toán.
(Căn cứ Điều 35, Luật Kế toán số 88/2015/QH13)
Thời hạn thực hiện kiểm tra kế toán do cơ quan có thẩm quyền quyết định, nhưng tối đa không vượt quá 10 ngày làm việc, không tính các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của Bộ luật Lao động.
Trong trường hợp phạm vi hoặc nội dung kiểm tra có tính chất phức tạp, cần thêm thời gian để đối chiếu, phân tích và đưa ra kết luận, cơ quan có thẩm quyền được phép gia hạn. Tuy nhiên, thời gian gia hạn đối với mỗi cuộc kiểm tra cũng không được vượt quá 05 ngày làm việc, và tương tự không tính các ngày nghỉ, ngày lễ.
(Theo Điều 36 Luật Kế toán số 88/2015/QH13)
Trong quá trình tiến hành kiểm tra kế toán, đoàn kiểm tra phải công bố quyết định kiểm tra, trừ trường hợp là đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 34 của Luật này. Đoàn kiểm tra có quyền yêu cầu đơn vị được kiểm tra cung cấp tài liệu kế toán liên quan đến nội dung kiểm tra và yêu cầu giải trình khi cần thiết.
Sau khi kết thúc, đoàn kiểm tra phải lập biên bản kiểm tra và bàn giao cho đơn vị được kiểm tra một bản. Nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về kế toán, đoàn kiểm tra có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Trưởng đoàn kiểm tra chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm tra của đoàn.
Đoàn kiểm tra phải tuân thủ đúng trình tự, phạm vi, nội dung và thời hạn kiểm tra, không được gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đơn vị và tuyệt đối không sách nhiễu đối tượng bị kiểm tra.
(Theo Điều 37, Luật Kế toán số 88/2015/QH13)
Trách nhiệm của đơn vị kế toán khi bị kiểm tra:
a) Có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ tài liệu kế toán liên quan đến nội dung kiểm tra và thực hiện việc giải trình theo yêu cầu của đoàn kiểm tra;
b) Chấp hành và thực hiện các kết luận do đoàn kiểm tra đưa ra.
Quyền của đơn vị kế toán trong quá trình kiểm tra:
a) Có quyền từ chối kiểm tra nếu nhận thấy cuộc kiểm tra được tiến hành không đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 34 hoặc nội dung kiểm tra không phù hợp với Điều 35 của Luật này;
b) Có quyền khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu không đồng ý với kết luận kiểm tra của đoàn.
(Căn cứ Điều 38, Luật Kế toán số 88/2015/QH13)
Kiểm soát nội bộ được hiểu là việc đơn vị kế toán xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với pháp luật. Mục tiêu là phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro, đồng thời bảo đảm đạt được các yêu cầu quản lý đặt ra.
Mỗi đơn vị kế toán phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm bảo đảm:
a) Tài sản của đơn vị luôn được an toàn, tránh tình trạng sử dụng sai mục đích hoặc kém hiệu quả;
b) Các nghiệp vụ kinh tế được phê duyệt đúng thẩm quyền, ghi chép đầy đủ, làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý.
Kiểm toán nội bộ là hoạt động nhằm đánh giá, kiểm tra và giám sát tính đầy đủ, hiệu quả và tính thích hợp của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Các nhiệm vụ chính của kiểm toán nội bộ bao gồm:
a) Đánh giá tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ;
b) Kiểm tra, xác nhận độ tin cậy và chất lượng thông tin tài chính – kinh tế, trong đó có báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị trước khi trình duyệt;
c) Đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chế độ tài chính – kế toán, chính sách và các quyết định quản lý của lãnh đạo đơn vị;
d) Phát hiện sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý và bảo vệ tài sản, đồng thời đề xuất giải pháp để cải thiện và hoàn thiện hệ thống quản trị, điều hành.
Chính phủ sẽ ban hành quy định chi tiết về kiểm toán nội bộ áp dụng cho doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp. (Khoản này được hướng dẫn tại Nghị định 05/2019/NĐ-CP)
(Theo Điều 39, Luật Kế toán số 88/2015/QH13)
Mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng áp dụng đối với một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp thiếu tài liệu kế toán liên quan đến nội dung kiểm tra cho đoàn kiểm tra;
b) Không thực hiện đầy đủ các kết luận mà đoàn kiểm tra đã đưa ra.
Mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng áp dụng cho một trong các hành vi:
a) Từ chối hoặc không chấp hành quyết định kiểm tra kế toán do cơ quan có thẩm quyền ban hành;
b) Không cung cấp tài liệu kế toán có liên quan đến nội dung kiểm tra theo yêu cầu;
c) Không dịch các tài liệu kèm theo chứng từ kế toán bằng tiếng nước ngoài sang tiếng Việt khi được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
d) Không thực hiện kết luận kiểm tra của đoàn kiểm tra.
(Theo Điều 14, Nghị định 41/2018/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán)
Trong hoạt động quản lý tài chính, Quy định về kiểm tra kế toán theo Luật Kế Toán đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính minh bạch, khách quan và chính xác của thông tin kế toán. Đây là căn cứ quan trọng giúp doanh nghiệp phát hiện, ngăn ngừa kịp thời các sai phạm, đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ. Song song với đó, Quy định về kiểm kê tài sản cuối năm cũng được coi là bước quan trọng để doanh nghiệp đối chiếu, xác minh số liệu thực tế với sổ sách kế toán, bảo đảm tính đúng đắn trong báo cáo tài chính. Đối với những người học và làm kế toán, việc nắm chắc các quy định này sẽ giúp nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và khả năng xử lý tình huống thực tế. Hiện nay, Trung tâm đào tạo kế toán thực hành tại Bắc Ninh và Trung tâm đào tạo kế toán thực hành tại Thủ Đức của Kế Toán Minh Việt chính là địa chỉ uy tín hỗ trợ học viên trang bị kiến thức chuyên sâu và thực hành vững chắc về các quy định quan trọng này.